Độ rộng và luân chuyển ngành đang ở mức thấp. Tín hiệu thị trường thiếu đồng thuận, vì vậy cần ưu tiên kiểm soát rủi ro.
Breadth đạt đỉnh tại T6 với 39.5 điểm, sau đó biến động đan xen về cuối tuần.
Diễn biến điểm số và vùng trạng thái trong 5 phiên gần nhất.
| Ngành | Rank | Δ4W | Sort Score | W-Breadth | Trạng Thái |
|---|---|---|---|---|---|
| Dau tu bat dong san va dich vu | 1 | N/A · 2/4W | 57.0 | 58.7% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Ngan hang | 2 | N/A · 2/4W | 54.5 | 48.5% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Cong ty Chung khoan | 3 | N/A · 2/4W | 32.2 | 29.7% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| San xuat thuc pham | 4 | N/A · 2/4W | 24.0 | 21.9% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Xay dung va vat lieu xay dung | 5 | N/A · 2/4W | 22.2 | 19.4% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 6 | N/A · 1/4W | 21.5 | 94.1% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Dien | 7 | N/A · 2/4W | 20.1 | 81.1% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Lam nghiep va giay | 8 | N/A · 2/4W | 18.8 | 97.0% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Phan mem va dich vu dien toan | 9 | N/A · 2/4W | 18.2 | 0.0% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Quy mo | 10 | N/A · 1/4W | 17.4 | 51.0% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Du lich va giai tri | 11 | N/A · 2/4W | 13.2 | 68.5% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Hang gia dung | 12 | N/A · 2/4W | 12.2 | 21.9% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Do uong | 13 | N/A · 2/4W | 11.6 | 51.4% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Oto va linh kien oto | 14 | N/A · 1/4W | 10.6 | 20.5% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Ban le chung | 15 | N/A · 2/4W | 9.1 | 10.9% | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Recent Exits | |||||
| Van tai, kho bai | OUT | N/A · 1/4W | — | — | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Hoa chat | OUT | N/A · 1/4W | — | — | INSUFFICIENT_HISTORY |
| Kim loai cong nghiep | OUT | N/A · 1/4W | — | — | INSUFFICIENT_HISTORY |
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 58.7% | 78.7% | MED | SPEC | 71 | 57.0 |
| 2 | Ngan hang | 21 | 48.5% | 52.2% | HIGH | WEAK | 49 | 54.5 |
| 3 | Cong ty Chung khoan | 20 | 29.7% | 38.5% | MED | WEAK | 26 | 32.2 |
| 4 | San xuat thuc pham | 29 | 21.9% | 19.8% | LOW | SPEC | 45 | 24.0 |
| 5 | Xay dung va vat lieu xay dung | 54 | 19.4% | 20.9% | LOW | SPEC | 43 | 22.2 |
| 6 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 94.1% | 93.9% | DRY | ILLIQ | 88 | 21.5 |
| 7 | Dien | 22 | 81.1% | 89.3% | DRY | ILLIQ | 68 | 20.1 |
| 8 | Lam nghiep va giay | 6 | 97.0% | 94.2% | DRY | ILLIQ | 63 | 18.8 |
| 9 | Phan mem va dich vu dien toan | 4 | 0.0% | 0.0% | LOW | ILLIQ | 32 | 18.2 |
| 10 | Quy mo | 16 | 51.0% | 87.7% | DRY | ILLIQ | 70 | 17.4 |
| 11 | Du lich va giai tri | 8 | 68.5% | 73.7% | DRY | ILLIQ | 36 | 13.2 |
| 12 | Hang gia dung | 13 | 21.9% | 21.3% | DRY | ILLIQ | 56 | 12.2 |
| 13 | Do uong | 4 | 51.4% | 48.6% | DRY | ILLIQ | 36 | 11.6 |
| 14 | Oto va linh kien oto | 8 | 20.5% | 12.7% | DRY | ILLIQ | 49 | 10.6 |
| 15 | Ban le chung | 13 | 10.9% | 7.1% | DRY | ILLIQ | 30 | 9.1 |
Chào mừng quý nhà đầu tư đến với Báo cáo Tổng kết Tuần, cung cấp góc nhìn chiến lược trung hạn theo phương pháp Top-Down, kết hợp các triết lý của William O'Neil và Mark Minervini.
Trong tuần qua, VN-Index ghi nhận mức tăng nhẹ 0.75%, đóng cửa tại 1871.9 điểm, duy trì trên các đường trung bình động quan trọng như EMA20 (1812.4) và EMA50 (1707.3) khung tuần, đồng thời vượt qua kháng cự tuần W_R1 (1850.1). Điều này củng cố xu hướng tăng trung hạn của chỉ số. Chỉ số RSI14 khung ngày kết thúc tuần ở mức 59.0, cho thấy đà tăng còn dư địa và chưa rơi vào trạng thái quá mua. Tuy nhiên, độ rộng thị trường nội tuần (Breadth) cho thấy một bức tranh phân hóa rõ rệt. Mặc dù điểm số Breadth cuối tuần có sự cải thiện nhẹ (từ 39.4 lên 39.5) và chế độ thị trường chuyển từ NEUTRAL sang BULL trong hai phiên cuối, nhưng tỷ lệ mã tăng/giảm trung bình (Avg A/D Ratio) chỉ đạt 0.65, cho thấy số lượng mã giảm vẫn nhiều hơn mã tăng trong phần lớn các phiên. Sự phân hóa này phần nào gây ra phân kỳ giữa đà tăng của chỉ số và sức mạnh nội tại của thị trường chung. Dù vậy, tín hiệu OBV đang theo xu hướng UP với mô tả "Dòng tiền xác nhận (Tích lũy tốt đồng thuận đà tăng)" là một điểm cộng cho dòng tiền tổng thể.
Sức mạnh nội tại của thị trường trong tuần qua cho thấy dấu hiệu suy yếu và phân hóa rõ rệt. McClellan Oscillator giảm từ 2.3 xuống -4.9, trong khi McClellan Summation Index cũng giảm từ -349.5 xuống -361.9. Sự suy giảm đồng thời của cả hai chỉ báo này phản ánh động lực chung của thị trường đang chững lại và áp lực bán ngắn hạn đang gia tăng, cho thấy dòng tiền chưa lan tỏa đều. Đáng chú ý, chênh lệch đỉnh/đáy mới (NH-NL) ròng ở mức tiêu cực đáng kể (-28.4), với 45 mã tạo đỉnh mới so với 187 mã tạo đáy mới. Tín hiệu này cảnh báo về chất lượng của xu hướng tăng, khi mà số lượng cổ phiếu có hiệu suất kém đang áp đảo những mã dẫn dắt. Tỷ lệ A/D trung bình tuần ở mức 0.65 cũng xác nhận rằng số lượng mã giảm nhiều hơn mã tăng trong phần lớn các phiên. Tổng thể, các chỉ báo này phản ánh rằng xu hướng tăng của VN-Index đang được dẫn dắt bởi một số mã trụ hoặc nhóm ngành nhất định, trong khi phần lớn thị trường đang đối mặt với sự suy yếu về động lực và chất lượng dòng tiền.
Thị trường ghi nhận mức độ luân chuyển ngành trung bình với 4 ngành thay đổi từ 3 bậc trở lên. Hai ngành thăng hạng mạnh nhất là "Phan mem va dich vu dien toan" (+6 bậc) và "Duoc pham va cong nghe sinh hoc" (+6 bậc). Tuy nhiên, chất lượng dòng tiền vào các nhóm này còn nhiều hạn chế. "Phan mem va dich vu dien toan" có W-Breadth 0.0% và thanh khoản (Liq) LOW, cho thấy sự tăng hạng chủ yếu đến từ một vài mã đơn lẻ hoặc mang tính đầu cơ, thiếu sự lan tỏa. Ngành "Duoc pham va cong nghe sinh hoc" dù có W-Breadth cao (94.1%) nhưng thanh khoản DRY (ILLIQUID), chỉ phù hợp cho quy mô vốn nhỏ và chưa thể dẫn dắt thị trường chung. Các ngành mới xuất hiện như "Quy mo" và "Hang gia dung" cũng có thanh khoản thấp (DRY/ILLIQUID). Ở chiều ngược lại, các ngành "Oto va linh kien oto", "Du lich va giai tri" giảm 3 bậc, cùng với việc "Ga, nuoc và cac tien ich khac" và "Van tai, kho bai" rời bảng xếp hạng, cho thấy dòng tiền đang rút khỏi các nhóm này. Mặc dù có dấu hiệu sơ bộ về sự luân chuyển, mức luân chuyển thực tế còn thấp và chất lượng dòng tiền trong các ngành thăng hạng chưa đủ xác nhận cho một xu hướng bền vững.
Tổng cộng có 28 mã cổ phiếu duy nhất được hệ thống xác định tín hiệu, với 40 setup được liệt kê. Hệ thống phân loại không ghi nhận setup nào ở trạng thái READY trong tuần. Thay vào đó, 17 setups đang ở trạng thái WAIT và 23 setups ở trạng thái NOT_QUALIFIED. Đối với nhóm WAIT, điều kiện chính còn thiếu để nâng cấp lên READY là RS Score chưa đạt ngưỡng yêu cầu (>70). Ví dụ, các mã như MSB (RS 55), VAB (RS 63), ACB (RS 59) đều có xu hướng tăng tốt nhưng sức mạnh tương đối chưa đủ mạnh để đạt trạng thái READY. Ngoài ra, một số setup mới xuất hiện trong 1 phiên (như POW, PVT, VAB, ACB, PET, SAB) cần thêm thời gian để xác nhận độ bền của nền tảng tích lũy. Nhóm NOT_QUALIFIED chủ yếu do RS Score yếu (<55) (20 setups). Một số setup khác như VVS, LPB, VIC bị loại do giá đã cách quá xa EMA20 (vượt ngưỡng 8%), cho thấy vị thế giá không còn tối ưu và rủi ro điều chỉnh cao.
Chỉ thị Risk Posture hiện tại là CONSTRUCTIVE, cho phép một mức độ chủ động quan sát và tìm kiếm cơ hội thiết lập vị thế cao hơn. Mặc dù VN-Index duy trì trên các hỗ trợ quan trọng và có tín hiệu OBV tích cực, sự phân hóa về độ rộng thị trường và McClellan Oscillator suy yếu đòi hỏi sự chọn lọc kỹ càng, tập trung vào chất lượng hơn là số lượng. Ưu tiên những cổ phiếu có RS Score mạnh (>70), thể hiện xu hướng tăng rõ ràng và có nền tảng tích lũy chặt chẽ. Các mã ở trạng thái WAIT nên được theo dõi sát sao để đánh giá khả năng cải thiện RS Score và độ bền của setup. Đồng thời, cần chú ý đến sự cải thiện về W-Breadth và thanh khoản trong các nhóm ngành tiềm năng để xác nhận dòng tiền thực sự. Các vùng kháng cự phía trên là những điểm cần đánh giá lại lực cung tiềm năng.
Cần theo dõi chặt chẽ các tín hiệu cảnh báo như sự suy yếu tiếp tục của McClellan Oscillator, sự gia tăng đáng kể của số lượng mã tạo đáy mới, hoặc VN-Index đánh mất các vùng hỗ trợ quan trọng như EMA20 khung tuần (1812.4) hoặc W_PP (1812.9). Bất kỳ sự suy giảm nào về chất lượng độ rộng thị trường có thể là yếu tố vô hiệu hóa trạng thái CONSTRUCTIVE và yêu cầu chuyển sang chiến lược thận trọng hơn.