| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | BSR | San xuat dau khi | +1.76% | +0.53 |
| 2 | VPL | Du lich va giai tri | +1.27% | +0.38 |
| 3 | MSN | San xuat thuc pham | +1.40% | +0.31 |
| 4 | GAS | Ga, nuoc va cac tien ich khac | +0.79% | +0.31 |
| 5 | LPB | Ngan hang | +1.18% | +0.28 |
| 6 | VCK | Cong ty Chung khoan | +1.45% | +0.21 |
| 7 | FRT | Ban le chung | +3.55% | +0.19 |
| 8 | SSI | Cong ty Chung khoan | +1.80% | +0.19 |
| 9 | BCM | Dau tu bat dong san va dich vu | +1.69% | +0.14 |
| 10 | VPI | Dau tu bat dong san va dich vu | +4.37% | +0.14 |
| Tổng (top 10) | +2.68 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VIC | Dau tu bat dong san va dich vu | -3.72% | -13.16 |
| 2 | VCB | Ngan hang | -1.23% | -1.24 |
| 3 | VHM | Dau tu bat dong san va dich vu | -1.15% | -1.22 |
| 4 | VPB | Ngan hang | -2.04% | -0.84 |
| 5 | HPG | Kim loai cong nghiep | -1.67% | -0.63 |
| 6 | BID | Ngan hang | -0.88% | -0.46 |
| 7 | ACB | Ngan hang | -1.70% | -0.43 |
| 8 | FPT | Phan mem va dich vu dien toan | -1.89% | -0.40 |
| 9 | STB | Ngan hang | -1.59% | -0.40 |
| 10 | MBB | Ngan hang | -0.76% | -0.32 |
| Tổng (top 10) | -19.09 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngan hang | 23 | 47.4% | 48.5% | HIGH | WEAK | 40 | 47.2 |
| 2 | Van tai, kho bai | 32 | 71.1% | 60.6% | LOW | SPEC | 67 | 34.4 |
| 3 | San xuat thuc pham | 30 | 58.0% | 54.8% | LOW | WEAK | 35 | 26.5 |
| 4 | Du lich va giai tri | 8 | 93.8% | 92.7% | DRY | ILLIQ | 93 | 23.5 |
| 5 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 0.4% | 0.3% | MED | WEAK | 10 | 22.8 |
| 6 | Ban le chung | 14 | 96.1% | 99.4% | DRY | ILLIQ | 89 | 22.0 |
| 7 | Cong ty Chung khoan | 20 | 0.1% | 0.0% | LOW | WEAK | 20 | 20.0 |
| 8 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 96.1% | 96.7% | DRY | ILLIQ | 69 | 18.3 |
| 9 | Lam nghiep va giay | 7 | 81.3% | 78.8% | DRY | ILLIQ | 63 | 16.8 |
| 10 | Xay dung va vat lieu xay dung | 52 | 34.2% | 36.2% | DRY | ILLIQ | 62 | 15.7 |
| 11 | Hang gia dung | 13 | 66.5% | 59.4% | DRY | ILLIQ | 56 | 15.3 |
| 12 | San xuat dau khi | 3 | 67.9% | 67.3% | DRY | ILLIQ | 40 | 13.3 |
| 13 | Kim loai cong nghiep | 10 | 12.7% | 18.6% | DRY | ILLIQ | 50 | 12.5 |
| 14 | Dien | 22 | 21.6% | 38.0% | DRY | ILLIQ | 47 | 11.9 |
| 15 | Hoa chat | 27 | 37.8% | 38.5% | DRY | ILLIQ | 28 | 9.9 |
Thị trường đang ở trạng thái Suy yếu - Đồng thuận giảm, cho thấy áp lực bán đang chi phối và được xác nhận bởi hầu hết các chỉ báo. Breadth Score ở mức 42.24 điểm, cho thấy độ rộng thị trường khá yếu. Tỷ lệ A/D Ratio đạt 1.13, tuy nhiên chỉ số NH-NL âm ở mức -13 phản ánh số lượng cổ phiếu có mức giá thấp mới đang vượt trội so với các cổ phiếu đạt đỉnh cao mới trong 52 tuần. McClellan Oscillator ở mức 6.78 điểm, nằm sát vùng trung tính nhưng cho thấy xu hướng tích cực chưa rõ ràng, trong khi Summation Index ở mức -321.54 điểm cho thấy động lực tích lũy đã suy giảm đáng kể trong trung hạn.
VNINDEX đã ghi nhận một phiên giảm điểm đáng kể (-0.94% trong phiên gần nhất), đóng cửa ở mức 1689.84 điểm. Chỉ số hiện đang giao dịch dưới tất cả các đường EMA quan trọng trên đồ thị ngày (EMA20, EMA50, EMA200), báo hiệu xu hướng ngắn hạn đang chịu áp lực rất lớn. Trên khung thời gian tuần, chỉ số vẫn duy trì trên EMA200 nhưng đã giảm xuống dưới EMA20 và EMA50, cho thấy xu hướng trung và dài hạn đang suy yếu dần.
Chỉ báo RSI14 ngày đã rơi xuống vùng quá bán (29.54), thường là tín hiệu cho thấy thị trường có thể có nhịp hồi phục kỹ thuật trong ngắn hạn, nhưng cũng phản ánh xung lực giảm mạnh. Tốc độ thay đổi giá (ROC5 và ROC20) đều âm sâu, xác nhận đà giảm đang diễn ra mạnh mẽ. Dòng tiền trên chỉ số (OBV Slope) cũng cho thấy sự phân phối, với đường OBV có xu hướng giảm. Vị thế giá so với 52 tuần (Pos52) ở mức 31.41% củng cố thêm nhận định thị trường đang nghiêng về nửa dưới của biên độ giá hàng năm. Nhìn chung, thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh và suy yếu, với độ rộng thị trường không đồng thuận, tạo ra rủi ro cho các vị thế mua mới.
Dòng tiền trên thị trường đang có sự phân hóa mạnh mẽ. Nhóm ngành Ngân hàng vẫn duy trì vị trí dẫn đầu về xếp hạng sức mạnh tương đối (rank 1), nhưng động lượng lại đang "đi ngang", cho thấy sự chững lại trong đà tăng. Ngược lại, nhóm Vận tải, kho bãi (rank 2) và Du lịch và giải trí (rank 4) đang có động lượng "tăng", cho thấy sự chuyển dịch dòng tiền sang các nhóm ngành này.
Tuy nhiên, áp lực giảm điểm trên VNINDEX đến chủ yếu từ các mã vốn hóa lớn. Trong phiên gần nhất, VIC (-13.16 điểm) từ ngành Đầu tư bất động sản và dịch vụ, cùng với VCB (-1.24 điểm) và VPB (-0.84 điểm) từ ngành Ngân hàng, là những yếu tố kéo chỉ số giảm mạnh nhất. Điều này cho thấy sự suy yếu tập trung vào các trụ cột chính, trong khi các mã đóng góp tích cực như BSR (0.53 điểm), VPL (0.38 điểm), MSN (0.31 điểm) có tác động không đủ lớn để bù đắp. Sự luân chuyển dòng tiền hiện tại mang tính chất phòng thủ và phân hóa, không có sự lan tỏa rộng rãi để hỗ trợ xu hướng tăng chung của thị trường.
Kịch bản tích cực: VNINDEX có thể hình thành một nhịp hồi phục kỹ thuật trong ngắn hạn từ vùng quá bán của chỉ số Daily RSI. Nếu chỉ số giữ vững được vùng hỗ trợ S1 hàng tuần quanh 1688.24 điểm và có phản ứng bật lên kèm theo khối lượng cải thiện, điều này có thể kích hoạt một đợt phục hồi lên các vùng kháng cự phía trên như pivot 1712.44 điểm hoặc thậm chí R1 1730.11 điểm. Kịch bản này sẽ dẫn đến sự cải thiện dần của Breadth Score và một số nhóm ngành có động lượng tăng có thể tiếp tục thu hút dòng tiền.
Kịch bản tiêu cực: VNINDEX tiếp tục xu hướng giảm hiện tại, phá vỡ dứt khoát vùng hỗ trợ S1 hàng tuần 1688.24 điểm và có thể kiểm định vùng EMA200 tuần quanh 1470.99 điểm. Nếu điều này xảy ra với khối lượng giao dịch lớn, đây sẽ là tín hiệu xác nhận xu hướng giảm chủ đạo, kéo McClellan Oscillator xuống vùng âm sâu hơn và Summation Index tiếp tục suy yếu, báo hiệu áp lực bán gia tăng và rủi ro điều chỉnh sâu hơn cho toàn thị trường. Trong kịch bản này, độ rộng thị trường sẽ tiếp tục suy yếu và các cổ phiếu mạnh cũng khó có thể duy trì đà tăng.
Hiện tại, trạng thái thị trường "Suy yếu - Đồng thuận giảm" và Market Regime "Neutral" cho thấy môi trường đầu tư đang tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chỉ số VNINDEX đã đóng cửa dưới tất cả các đường EMA ngắn hạn trên đồ thị ngày và dưới cả EMA20, EMA50 trên đồ thị tuần, phản ánh rõ ràng sự chi phối của áp lực bán. Dòng tiền đang có dấu hiệu phân phối, thể hiện qua OBV Slope âm, cho thấy sự rút lui của các dòng tiền lớn. Sự đóng góp tiêu cực từ các mã vốn hóa lớn như VIC, VCB, VHM đang ghì nén chỉ số, trong khi các mã tăng điểm có tác động không đáng kể.
⚠️ Rủi ro chính: Thị trường đang đối mặt với nguy cơ mất các ngưỡng hỗ trợ kỹ thuật quan trọng trong ngắn hạn và trung hạn. Nếu VNINDEX không thể giữ vững và đóng cửa dứt khoát dưới mức hỗ trợ S1 hàng tuần 1688.24 điểm trong các phiên tới, điều này sẽ mở ra khả năng kiểm định các vùng giá thấp hơn và đẩy chỉ số tiến gần hơn đến EMA200 tuần quanh 1470.99 điểm. Một sự phá vỡ hỗ trợ mạnh mẽ, đặc biệt nếu kèm theo khối lượng giao dịch lớn và sự suy yếu tiếp tục của độ rộng thị trường, sẽ xác nhận xu hướng giảm được thiết lập và làm tăng rủi ro cho tất cả các vị thế đầu tư.
Tổng thể thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh và suy yếu, với áp lực bán chiếm ưu thế và dòng tiền phân hóa, không ủng hộ cho một xu hướng tăng bền vững. Các chỉ báo độ rộng thị trường và xung lực giá đều xác nhận sự suy yếu này. Trong các phiên tới, cần đặc biệt quan sát phản ứng giá của VNINDEX tại vùng hỗ trợ S1 hàng tuần quanh 1688.24 điểm. Nếu chỉ số có thể giữ được trên ngưỡng này và cho tín hiệu hồi phục, đặc biệt khi Daily RSI đang quá bán, có thể mở ra cơ hội cho một nhịp phục hồi kỹ thuật. Tuy nhiên, nếu đóng cửa dứt khoát dưới 1688.24 điểm, nhận định thị trường sẽ chuyển sang trạng thái tiêu cực hơn, với rủi ro kiểm định các vùng hỗ trợ thấp hơn và khả năng xu hướng giảm tiếp diễn.