| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VHM | Dau tu bat dong san va dich vu | +3.57% | +3.66 |
| 2 | CTG | Ngan hang | +2.68% | +1.32 |
| 3 | BID | Ngan hang | +2.26% | +1.16 |
| 4 | VPL | Du lich va giai tri | +2.60% | +0.76 |
| 5 | VCB | Ngan hang | +0.71% | +0.71 |
| 6 | LPB | Ngan hang | +2.15% | +0.51 |
| 7 | TCB | Ngan hang | +0.91% | +0.45 |
| 8 | HVN | Du lich va giai tri | +2.94% | +0.40 |
| 9 | MWG | Ban le chung | +1.51% | +0.34 |
| 10 | MSN | San xuat thuc pham | +1.42% | +0.31 |
| Tổng (top 10) | +9.60 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VIC | Dau tu bat dong san va dich vu | -1.38% | -4.93 |
| 2 | VCK | Cong ty Chung khoan | -1.08% | -0.15 |
| 3 | PLX | San xuat dau khi | -1.41% | -0.13 |
| 4 | MBB | Ngan hang | -0.25% | -0.11 |
| 5 | VPI | Dau tu bat dong san va dich vu | -2.63% | -0.09 |
| 6 | HCM | Cong ty Chung khoan | -1.04% | -0.07 |
| 7 | DSE | Cong ty Chung khoan | -2.82% | -0.05 |
| 8 | GAS | Ga, nuoc va cac tien ich khac | -0.13% | -0.05 |
| 9 | EIB | Ngan hang | -0.61% | -0.04 |
| 10 | BFC | Hoa chat | -4.22% | -0.03 |
| Tổng (top 10) | -5.67 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngan hang | 23 | 47.0% | 43.3% | HIGH | WEAK | 56 | 60.6 |
| 2 | Van tai, kho bai | 32 | 71.6% | 78.9% | LOW | SPEC | 67 | 35.9 |
| 3 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 0.4% | 1.1% | MED | WEAK | 12 | 23.9 |
| 4 | San xuat thuc pham | 30 | 57.3% | 48.1% | LOW | WEAK | 33 | 23.7 |
| 5 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 96.2% | 98.1% | DRY | ILLIQ | 69 | 19.6 |
| 6 | Cong ty Chung khoan | 20 | 0.1% | 0.0% | LOW | WEAK | 20 | 18.4 |
| 7 | Lam nghiep va giay | 7 | 81.8% | 66.0% | DRY | ILLIQ | 55 | 17.7 |
| 8 | Ban le chung | 14 | 73.9% | 86.7% | DRY | ILLIQ | 59 | 16.8 |
| 9 | Du lich va giai tri | 8 | 65.9% | 54.7% | DRY | ILLIQ | 43 | 14.6 |
| 10 | Xay dung va vat lieu xay dung | 52 | 33.7% | 38.5% | DRY | ILLIQ | 60 | 14.5 |
| 11 | Hang gia dung | 13 | 66.6% | 64.9% | DRY | ILLIQ | 49 | 14.3 |
| 12 | San xuat dau khi | 3 | 0.0% | 0.0% | LOW | ILLIQ | 13 | 13.2 |
| 13 | Dien | 22 | 20.9% | 38.1% | DRY | ILLIQ | 47 | 12.5 |
| 14 | Hoa chat | 27 | 37.9% | 47.4% | DRY | ILLIQ | 27 | 9.9 |
| 15 | Kim loai cong nghiep | 10 | 6.2% | 8.7% | DRY | ILLIQ | 37 | 9.2 |
Thị trường hiện đang ở trạng thái Suy yếu - Đồng thuận giảm. Điểm số độ rộng thị trường (Breadth Score) đang ở mức 46.19, cho thấy sự suy yếu của đa số cổ phiếu. Tỷ lệ tăng/giảm (A/D Ratio) là 1.55, trong khi chỉ báo New Highs – New Lows (NH-NL) ở mức -14, phản ánh số lượng cổ phiếu giảm giá và số lượng cổ phiếu tạo đáy mới đang nhiều hơn số cổ phiếu tăng giá hoặc tạo đỉnh mới. McClellan Oscillator ghi nhận 4.32 điểm và Summation Index ở mức -328.32 điểm. Các chỉ báo này cho thấy áp lực bán vẫn hiện hữu và dòng tiền chưa thực sự mạnh mẽ quay trở lại, dù McClellan có tín hiệu hồi phục nhẹ từ vùng tiêu cực. VNINDEX đang giao dịch dưới các đường EMA20 và EMA50 trên cả khung thời gian ngày và tuần, nhưng vẫn giữ được trên EMA200 tuần, cho thấy xu hướng trung dài hạn vẫn còn tiềm năng nhưng ngắn hạn đang gặp áp lực. Chỉ số RSI14 tuần ở mức 42.72, nằm trong vùng trung tính và RSI14 ngày ở mức 32.89, tiếp cận vùng quá bán.
VNINDEX đã đóng cửa phiên gần nhất tại 1705.91 điểm, tăng 0.45% so với phiên liền trước, nhưng xu hướng chung vẫn đang trong giai đoạn điều chỉnh. Mức giá hiện tại nằm dưới tất cả các đường EMA20, EMA50, EMA200 trên khung thời gian ngày, cho thấy xu hướng giảm điểm ngắn hạn đang chi phối. Trên khung thời gian tuần, giá cũng đang dưới EMA20 (1778.19) và EMA50 (1738.79), củng cố nhận định về một giai đoạn điều chỉnh. Tỷ lệ ROC5 (-1.68%) và ROC20 (-6.04%) đều âm, xác nhận xung lực giảm giá trong ngắn và trung hạn. Khối lượng giao dịch phiên gần nhất chỉ đạt 0.9 lần so với khối lượng trung bình 20 phiên, cho thấy sự thận trọng của dòng tiền và thiếu đi sự xác nhận mạnh mẽ cho nhịp tăng trong phiên. Chỉ báo OBV có độ dốc âm (-324,422,848), cho thấy dòng tiền đang có xu hướng thoát ra khỏi thị trường. Tổng thể, thị trường đang trong giai đoạn suy yếu, thiếu sự đồng thuận từ độ rộng và dòng tiền, và có khả năng tiếp tục điều chỉnh hoặc tích lũy thêm trước khi có thể hình thành một xu hướng tăng bền vững.
Dòng tiền hiện đang có sự phân hóa rõ rệt trong bối cảnh thị trường chung suy yếu. Nhóm ngành Ngân hàng vẫn duy trì vị thế dẫn đầu với RS Score 60.6 và momentum tăng, cho thấy khả năng giữ giá tốt hơn thị trường chung. Theo sau là nhóm Vận tải, kho bãi (RS Score 35.9, momentum tăng) và Dược phẩm và công nghệ sinh học (RS Score 19.6, momentum tăng), cho thấy đây là những nhóm ngành có sức mạnh tương đối và có khả năng thu hút dòng tiền trong giai đoạn phòng thủ.
Tuy nhiên, sự hồi phục của chỉ số trong phiên gần nhất lại chủ yếu đến từ một vài cổ phiếu trụ. Mã VHM đóng góp lớn nhất với 3.66 điểm tăng cho VNINDEX, theo sau là CTG với 1.32 điểm và BID với 1.16 điểm. Ngược lại, VIC lại là mã ghì chỉ số mạnh nhất với -4.93 điểm. Điều này cho thấy sự tăng điểm của VNINDEX chưa phải là sự lan tỏa rộng rãi mà mang tính cục bộ, tập trung vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn, đặc biệt là nhóm bất động sản và ngân hàng. Sự phân hóa này tiềm ẩn rủi ro khi các nhóm ngành chủ chốt như Đầu tư bất động sản và dịch vụ và Công ty Chứng khoán lại đang có momentum giảm, dù một số mã trong nhóm ngân hàng vẫn tăng điểm. Giá trị giao dịch phiên gần nhất (9918 tỷ VND) thấp hơn đáng kể so với mức trung bình 20 phiên (12085.2 tỷ VND), củng cố nhận định về sự thiếu hụt dòng tiền lớn trên toàn thị trường.
Kịch bản tích cực: Thị trường có thể chuyển biến tích cực nếu VNINDEX duy trì được trên vùng 1694.77 điểm (đáy 20 phiên gần nhất) và lấy lại được mốc 1718.02 điểm (S1 hàng tuần) kèm theo khối lượng giao dịch gia tăng đáng kể (RVOL > 1.2). Đồng thời, Breadth Score cần cải thiện lên trên 50 và McClellan Oscillator duy trì đà tăng trên vùng 0. Trong kịch bản này, dòng tiền có thể lan tỏa rộng hơn từ các nhóm dẫn dắt như Ngân hàng và Vận tải sang các nhóm ngành khác, và các cổ phiếu trong watchlist với setup WATCH sẽ có xác suất breakout thành công cao hơn.
Kịch bản tiêu cực: Thị trường có thể tiếp tục suy yếu nếu VNINDEX mất mốc hỗ trợ quan trọng tại 1694.77 điểm (đáy 20 phiên) và đặc biệt là thủng hỗ trợ S1 hàng tuần tại 1718.02 điểm, với khối lượng giao dịch tăng cao hơn mức trung bình 20 phiên. Trong trường hợp này, các chỉ báo độ rộng như Breadth Score và NH-NL có thể tiếp tục cho tín hiệu tiêu cực hơn nữa, xác nhận xu hướng giảm. Dòng tiền có thể tập trung vào các mã phòng thủ hoặc thoát khỏi thị trường, khiến các cổ phiếu đang trong giai đoạn WATCH có nguy cơ thất bại setup và điều chỉnh sâu hơn.
Rủi ro chính trong giai đoạn hiện tại là sự suy yếu đồng bộ của thị trường, với đa số cổ phiếu đang trong xu hướng giảm và dòng tiền có dấu hiệu thoát ra. Mặc dù VNINDEX có nhịp hồi trong phiên gần nhất, nhưng sự đóng góp chủ yếu từ một số cổ phiếu vốn hóa lớn không phản ánh sự cải thiện của độ rộng thị trường. Nếu VNINDEX không thể giữ được mốc hỗ trợ 1694.77 điểm (đáy thấp nhất 20 phiên) và đặc biệt là mất mốc 1705.91 điểm (giá đóng cửa phiên gần nhất), áp lực bán có thể gia tăng mạnh mẽ, đẩy chỉ số xuống vùng hỗ trợ thấp hơn và làm tăng rủi ro cho các setup kỹ thuật đang trong giai đoạn tích lũy. Đặc biệt, việc mất hỗ trợ EMA50 tuần quanh 1738.79 điểm sẽ là một tín hiệu tiêu cực cho xu hướng trung hạn.
Thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh và suy yếu, với dòng tiền phân hóa và tập trung vào một số cổ phiếu trụ hoặc nhóm ngành có sức mạnh tương đối vượt trội. Sự phục hồi trong phiên gần nhất cần được đánh giá thận trọng do thiếu sự lan tỏa và thanh khoản thấp.
Mốc 1694.77 điểm (đáy 20 phiên gần nhất) là vùng hỗ trợ kỹ thuật quan trọng cần được quan sát chặt chẽ trong các phiên tới. Nếu VNINDEX giữ được mốc này và dần lấy lại được các ngưỡng EMA20 ngày (1745.88 điểm) và EMA50 ngày (1768.83 điểm), nhận định thị trường có thể chuyển sang trạng thái tích lũy bền vững hơn. Ngược lại, việc mất mốc hỗ trợ 1694.77 điểm sẽ xác nhận một kịch bản tiêu cực và cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường.