| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VIC | Dau tu bat dong san va dich vu | +1.37% | +4.93 |
| 2 | VHM | Dau tu bat dong san va dich vu | +0.78% | +0.87 |
| 3 | HDB | Ngan hang | +2.21% | +0.53 |
| 4 | TCB | Ngan hang | +1.07% | +0.53 |
| 5 | TPB | Ngan hang | +1.74% | +0.12 |
| 6 | PNJ | Do dung ca nhan | +5.79% | +0.11 |
| 7 | VCK | Cong ty Chung khoan | +0.75% | +0.10 |
| 8 | SSB | Ngan hang | +0.62% | +0.07 |
| 9 | VIB | Ngan hang | +0.73% | +0.07 |
| 10 | KBC | Dau tu bat dong san va dich vu | +1.38% | +0.07 |
| Tổng (top 10) | +7.41 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | BID | Ngan hang | -1.48% | -0.77 |
| 2 | VCB | Ngan hang | -0.71% | -0.71 |
| 3 | MSN | San xuat thuc pham | -2.74% | -0.62 |
| 4 | LPB | Ngan hang | -2.36% | -0.60 |
| 5 | STB | Ngan hang | -1.94% | -0.52 |
| 6 | HPG | Kim loai cong nghiep | -1.21% | -0.45 |
| 7 | MCH | San xuat thuc pham | -0.91% | -0.36 |
| 8 | CTG | Ngan hang | -0.68% | -0.33 |
| 9 | BSR | San xuat dau khi | -0.98% | -0.32 |
| 10 | FPT | Phan mem va dich vu dien toan | -1.40% | -0.29 |
| Tổng (top 10) | -4.96 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngan hang | 23 | 45.6% | 60.2% | HIGH | WEAK | 46 | 53.8 |
| 2 | San xuat thuc pham | 30 | 70.4% | 79.3% | LOW | SPEC | 75 | 39.7 |
| 3 | Van tai, kho bai | 32 | 58.4% | 57.3% | LOW | WEAK | 52 | 28.0 |
| 4 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 0.2% | 0.8% | MED | WEAK | 10 | 21.5 |
| 5 | Ban le chung | 14 | 94.6% | 98.4% | DRY | ILLIQ | 84 | 21.4 |
| 6 | San xuat dau khi | 3 | 67.3% | 75.2% | LOW | ILLIQ | 27 | 20.9 |
| 7 | Lam nghiep va giay | 7 | 81.4% | 79.0% | DRY | ILLIQ | 57 | 18.6 |
| 8 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 96.7% | 85.6% | DRY | ILLIQ | 68 | 16.5 |
| 9 | Thiet bi dien, dien tu | 4 | 41.2% | 44.3% | DRY | ILLIQ | 65 | 15.0 |
| 10 | Hang gia dung | 13 | 66.2% | 83.7% | DRY | ILLIQ | 52 | 14.6 |
| 11 | Cong ty Chung khoan | 20 | 0.1% | 0.1% | LOW | WEAK | 15 | 14.0 |
| 12 | Hoa chat | 27 | 68.6% | 66.7% | DRY | ILLIQ | 50 | 13.8 |
| 13 | Xay dung va vat lieu xay dung | 52 | 23.6% | 22.5% | DRY | ILLIQ | 50 | 11.8 |
| 14 | Du lich va giai tri | 8 | 62.4% | 72.2% | DRY | ILLIQ | 40 | 11.8 |
| 15 | Dien | 22 | 17.2% | 23.9% | DRY | ILLIQ | 46 | 11.3 |
Thị trường đang ở trạng thái Suy yếu - Đồng thuận giảm. Các chỉ báo độ rộng thị trường xác nhận xu hướng suy yếu này: Breadth Score đạt 31.88, cho thấy chỉ một phần nhỏ cổ phiếu đang giữ được sức mạnh. Tỷ lệ tăng/giảm (A/D Ratio) là 0.45, xác nhận số lượng cổ phiếu giảm giá áp đảo đáng kể so với cổ phiếu tăng giá. Chỉ số New High - New Low (NH-NL) ở mức -33, phản ánh số lượng cổ phiếu tạo đáy mới vượt trội so với cổ phiếu tạo đỉnh mới, cho thấy áp lực bán lan rộng. McClellan Oscillator ở mức -5.41 và Summation Index đạt -326.62, cả hai đều cho thấy xung lực thị trường đang tiêu cực và xu hướng giảm điểm có nền tảng vững chắc, không chỉ là sự điều chỉnh đơn lẻ của chỉ số.
Xu hướng hiện tại của VN-Index cho thấy sự suy yếu đồng bộ trên nhiều mặt, xác nhận trạng thái "Suy yếu - Đồng thuận giảm". Chỉ số đã đóng cửa tại 1719.42 điểm, giảm nhẹ 0.09% so với phiên liền trước. Đáng chú ý, giá đã nằm dưới cả ba đường EMA quan trọng trên khung thời gian ngày (EMA20, EMA50, EMA200) và dưới cả EMA20 tuần (1779.48) cùng EMA50 tuần (1739.32), cho thấy áp lực giảm giá đang chiếm ưu thế trong ngắn và trung hạn. Tuy nhiên, việc VN-Index vẫn giữ được trên EMA200 tuần tại 1468.91 điểm cho thấy xu hướng dài hạn vẫn đang được bảo toàn.
Các chỉ báo động lượng cũng phản ánh sự suy yếu: RSI ngày ở mức 33.72, tiến gần đến vùng quá bán, trong khi RSI tuần ở mức 43.85 cho thấy momentum trung hạn đang mất dần. Tỷ lệ thay đổi giá 5 ngày (ROC5) là -2.25% và 20 ngày (ROC20) là -5.06%, củng cố thêm tín hiệu giảm giá trong ngắn hạn. Khối lượng giao dịch trong phiên thấp hơn mức trung bình 20 ngày (RVOL 0.88), cho thấy thiếu lực cầu mạnh mẽ để đẩy giá lên, đồng thời độ dốc của chỉ báo dòng tiền OBV là âm (-563 triệu), cho thấy dòng tiền đang có dấu hiệu phân phối. Chỉ báo vị thế giá 52 tuần (pos52) ở mức 39.75%, nằm ở nửa dưới của phạm vi giao dịch năm qua, càng khẳng định áp lực suy giảm.
Dòng tiền thị trường đang có sự phân hóa rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh suy yếu chung. Ngành Ngân hàng vẫn duy trì vị trí dẫn đầu (rank 1) nhưng momentum đang "đi ngang", cho thấy ngành này đang trong giai đoạn củng cố hoặc tạm dừng đà tăng. Điều này được minh họa rõ ràng qua đóng góp vào chỉ số: mặc dù HDB (+0.53 điểm) và TCB (+0.53 điểm) là các mã ngân hàng có đóng góp tích cực đáng kể, nhưng cùng lúc đó, BID (-0.77 điểm), VCB (-0.71 điểm), LPB (-0.6 điểm), và STB (-0.52 điểm) lại là những mã ghì chỉ số mạnh nhất.
Ngoài ra, các ngành Sản xuất thực phẩm (rank 2) và Vận tải, kho bãi (rank 3) đang cho thấy momentum "tăng", có thể thu hút dòng tiền trú ẩn hoặc tìm kiếm cơ hội riêng lẻ. Một số ngành khác như Bán lẻ chung và Lâm nghiệp và giấy cũng có momentum "tăng", thể hiện sự luân chuyển cục bộ sang các nhóm ngành mang tính phòng thủ hoặc ít nhạy cảm với thị trường chung hơn. Ngược lại, các nhóm như Đầu tư bất động sản và dịch vụ (rank 4) và Sản xuất dầu khí (rank 6) đang có momentum "giảm", cho thấy dòng tiền đang rút ra khỏi các nhóm này, bất chấp việc một số mã bất động sản lớn như VIC (+4.93 điểm) và VHM (+0.87 điểm) có đóng góp tích cực vào VN-Index trong phiên gần nhất. Điều này càng làm nổi bật sự phân hóa và thiếu đồng thuận của thị trường.
Kịch bản tích cực: Thị trường cần giữ vững vùng hỗ trợ S1 tại 1718.02 điểm và sau đó thiết lập một nhịp hồi phục có khối lượng tăng dần, đặc biệt là khi VN-Index vượt lên trên EMA50 tuần tại 1739.32 điểm. Điều này sẽ tạo tiền đề cho sự cải thiện của độ rộng thị trường, với A/D Ratio tăng lên trên 1.0 và chỉ số NH-NL chuyển sang dương, cho thấy sự lan tỏa của dòng tiền. Khi đó, các nhóm ngành dẫn dắt như Ngân hàng có thể lấy lại momentum "tăng" và dòng tiền có khả năng luân chuyển mở rộng sang các ngành có tiềm năng tăng trưởng khác.
Kịch bản tiêu cực: Nếu VN-Index không thể giữ được hỗ trợ S1 tại 1718.02 điểm và tiếp tục đóng cửa dưới mức này, điều này sẽ xác nhận đà giảm và mở ra các vùng giá thấp hơn. Khi đó, Breadth Score có thể tiếp tục giảm sâu, McClellan Oscillator duy trì hoặc giảm thêm, xác nhận sự suy yếu đồng bộ của thị trường. Dòng tiền có khả năng sẽ tiếp tục rút ra khỏi các nhóm ngành đang suy yếu, và thậm chí cả các nhóm ngành dẫn dắt cũng có thể chịu áp lực điều chỉnh mạnh hơn, khiến các setup kỹ thuật của cổ phiếu dẫn dắt bị thất bại.
Thị trường đang ở trạng thái "Suy yếu - Đồng thuận giảm", điều này cho thấy xu hướng giảm điểm đang được xác nhận rộng rãi, không phải là một sự phân kỳ đơn thuần. Rủi ro lớn nhất hiện tại là VN-Index mất đi điểm tựa kỹ thuật quan trọng quanh S1 ở 1718.02 điểm. Nếu điều này xảy ra, áp lực bán có thể gia tăng và chỉ số sẽ mở rộng đà giảm. Mặc dù ngành Ngân hàng đang là ngành dẫn dắt theo xếp hạng, nhưng momentum "đi ngang" và sự phân hóa mạnh mẽ trong nội bộ ngành (một số mã tăng, nhiều mã giảm) cho thấy sự thiếu đồng thuận, tạo ra rủi ro cho sự ổn định chung của thị trường. Dòng tiền yếu thể hiện qua độ dốc OBV âm và khối lượng giao dịch dưới trung bình cũng là một yếu tố cần đặc biệt lưu ý, cho thấy thiếu sự hấp thụ mạnh mẽ ở các mức giá thấp hơn.
Thị trường đang trải qua giai đoạn suy yếu và điều chỉnh, với độ rộng thị trường và dòng tiền đang xác nhận xu hướng giảm ngắn hạn. Mặc dù có những điểm sáng từ một số cổ phiếu riêng lẻ có setup kỹ thuật tốt và một số ngành có tính phòng thủ đang duy trì đà tăng, bức tranh tổng thể cho thấy rủi ro vẫn còn cao.
Mốc hỗ trợ S1 của VN-Index tại 1718.02 điểm là ngưỡng kỹ thuật quan trọng cần được quan sát chặt chẽ trong các phiên tới. Nếu chỉ số giữ được mốc này và sau đó có thể vượt trở lại lên trên EMA50 tuần tại 1739.32 điểm, nhận định thị trường có thể chuyển sang hướng trung tính và giảm bớt áp lực tiêu cực. Ngược lại, việc VN-Index đóng cửa dưới 1718.02 điểm sẽ là tín hiệu tiêu cực, xác nhận đà giảm tiếp diễn và có thể mở ra các vùng giá thấp hơn.