| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VPL | Du lich va giai tri | +4.25% | +1.25 |
| 2 | VHM | Dau tu bat dong san va dich vu | +1.02% | +1.21 |
| 3 | BSR | San xuat dau khi | +2.30% | +0.74 |
| 4 | LPB | Ngan hang | +2.09% | +0.57 |
| 5 | VNM | San xuat thuc pham | +2.10% | +0.53 |
| 6 | VCB | Ngan hang | +0.53% | +0.53 |
| 7 | MWG | Ban le chung | +2.15% | +0.49 |
| 8 | TCX | Cong ty Chung khoan | +2.88% | +0.47 |
| 9 | VPB | Ngan hang | +0.87% | +0.33 |
| 10 | VCK | Cong ty Chung khoan | +2.38% | +0.33 |
| Tổng (top 10) | +6.45 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | FPT | Phan mem va dich vu dien toan | -2.42% | -0.54 |
| 2 | ACB | Ngan hang | -1.90% | -0.49 |
| 3 | SSB | Ngan hang | -3.72% | -0.47 |
| 4 | VBB | Ngan hang | -5.67% | -0.20 |
| 5 | PNJ | Do dung ca nhan | -6.93% | -0.16 |
| 6 | GEE | Thiet bi dien, dien tu | -1.40% | -0.14 |
| 7 | HVN | Du lich va giai tri | -0.98% | -0.13 |
| 8 | BVH | Bao hiem nhan tho | -1.06% | -0.13 |
| 9 | STB | Ngan hang | -0.44% | -0.12 |
| 10 | SHB | Ngan hang | -0.90% | -0.11 |
| Tổng (top 10) | -2.49 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngan hang | 23 | 41.8% | 35.2% | HIGH | WEAK | 35 | 47.3 |
| 2 | San xuat dau khi | 3 | 100.0% | 100.0% | LOW | ILLIQ | 77 | 43.3 |
| 3 | San xuat thuc pham | 30 | 64.9% | 62.2% | LOW | SPEC | 54 | 33.9 |
| 4 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 35.9% | 37.2% | MED | WEAK | 22 | 33.4 |
| 5 | Ban le chung | 14 | 92.9% | 94.4% | DRY | ILLIQ | 86 | 22.8 |
| 6 | Du lich va giai tri | 8 | 90.7% | 92.3% | DRY | ILLIQ | 84 | 20.4 |
| 7 | Cong ty Chung khoan | 20 | 0.1% | 0.1% | LOW | WEAK | 15 | 20.0 |
| 8 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 97.2% | 97.3% | DRY | ILLIQ | 85 | 19.7 |
| 9 | Van tai, kho bai | 32 | 68.4% | 69.7% | DRY | ILLIQ | 73 | 18.9 |
| 10 | Ga, nuoc va cac tien ich khac | 10 | 98.5% | 97.2% | DRY | ILLIQ | 67 | 17.5 |
| 11 | Lam nghiep va giay | 7 | 83.4% | 93.1% | DRY | ILLIQ | 61 | 17.4 |
| 12 | Hang gia dung | 13 | 62.7% | 50.2% | DRY | ILLIQ | 50 | 14.1 |
| 13 | Thiet bi dien, dien tu | 4 | 38.1% | 29.1% | DRY | ILLIQ | 59 | 13.3 |
| 14 | Hoa chat | 27 | 61.9% | 69.8% | DRY | ILLIQ | 34 | 12.6 |
| 15 | Xay dung va vat lieu xay dung | 52 | 15.1% | 14.3% | DRY | ILLIQ | 36 | 10.3 |
Thị trường đang ở trạng thái "Suy yếu - Đồng thuận giảm" với Market Regime được đánh giá là Neutral. Điều này được xác nhận bởi các chỉ báo độ rộng thị trường cho thấy sự yếu kém lan tỏa: Breadth Score ở mức thấp 34.78, cho thấy đa số cổ phiếu đang không giữ được xu hướng tăng. Tỷ lệ tăng/giảm (A/D Ratio) là 0.69, nghiêng hẳn về phía các mã giảm giá. Chỉ số New High - New Low (NH-NL) ở mức âm -49, biểu thị số lượng cổ phiếu đạt mức thấp mới trong 52 tuần vượt trội so với số đạt mức cao mới. McClellan Oscillator đang ở vùng tiêu cực -6.98 và Summation Index giảm sâu xuống -306.07, cho thấy áp lực bán và sự suy yếu trên diện rộng đang duy trì và tích lũy.
VNINDEX kết phiên tăng nhẹ 0.34% so với phiên trước, đạt 1759.08 điểm, với khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch trong phiên đều cao hơn mức trung bình 20 phiên (Relative Volume 1.24, Giá trị giao dịch cao hơn MA20 1.1 lần). Tuy nhiên, bức tranh tổng thể cho thấy sự suy yếu. Về mặt kỹ thuật, chỉ số đang giao dịch dưới cả ba đường EMA 20, 50 và 200 ngày, đặc biệt là dưới EMA200 ngày (1759.92 điểm) và EMA50 ngày (1787.04 điểm), cho thấy áp lực giảm giá đang chiếm ưu thế trong ngắn hạn và trung hạn. Trên khung thời gian tuần, VNINDEX vẫn giữ trên EMA50 tuần (1740.29 điểm) và EMA200 tuần (1466.43 điểm) nhưng đã mất EMA20 tuần (1786.17 điểm), phản ánh sự phân hóa và nguy cơ đảo chiều xu hướng tăng trung hạn. Chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) hàng tuần ở mức trung tính 45.58 và RSI hàng ngày là 42.91, đều thể hiện động lực giá không mạnh. Tốc độ thay đổi giá (ROC) 5 ngày và 20 ngày đều âm (-1.05% và -3.9%), xác nhận xung lực giảm trong ngắn hạn. Đường OBV với độ dốc âm (-15,301,018) củng cố nhận định về dòng tiền đang có dấu hiệu phân phối. Độ rộng thị trường đồng thuận giảm, cho thấy đây không phải là một nhịp điều chỉnh kỹ thuật đơn thuần mà là sự suy yếu có nền tảng.
Dòng tiền thị trường đang cho thấy sự phân hóa và có dấu hiệu phòng thủ. Nhóm Ngân hàng vẫn đứng đầu về xếp hạng RS Score, nhưng momentum ngành đang giảm, thể hiện qua việc nhiều mã ngân hàng bị bán mạnh trong phiên. Cụ thể, ACB (-0.49 điểm), SSB (-0.47 điểm) và VBB (-0.2 điểm) là những mã ghì chỉ số. Trong khi đó, Sản xuất dầu khí và Sản xuất thực phẩm đang cho thấy momentum tăng và nằm trong top các ngành có RS Score cao. Điểm đáng chú ý là sự đóng góp của VNINDEX trong phiên giao dịch gần nhất đến từ các mã riêng lẻ như VPL (+1.25 điểm) và VHM (+1.21 điểm), cùng với BSR (+0.74 điểm) từ ngành Sản xuất dầu khí và VNM (+0.53 điểm) từ ngành Sản xuất thực phẩm. Sự tăng điểm của chỉ số đang thiếu đi sự lan tỏa rộng rãi, chủ yếu được dẫn dắt bởi một vài cổ phiếu trụ có câu chuyện riêng hoặc dòng tiền đầu cơ cục bộ, trong khi nhiều ngành khác và độ rộng thị trường lại suy yếu. Điều này cho thấy dòng tiền đang tập trung vào các nhóm có tính phòng thủ hoặc những cổ phiếu có câu chuyện tăng trưởng riêng biệt, thay vì lan tỏa mạnh mẽ trên toàn thị trường.
volume_dry_up: true) là dấu hiệu của sự tích lũy chặt chẽ.volume_dry_up: true) là một yếu tố tích cực, cho thấy áp lực bán đã giảm.Kịch bản tích cực: Thị trường cần có sự cải thiện rõ rệt về độ rộng để thoát khỏi trạng thái "Suy yếu - Đồng thuận giảm". Điều kiện kích hoạt là VNINDEX cần lấy lại các đường EMA ngắn hạn, đặc biệt là EMA20 ngày (1779.69 điểm) và sau đó là EMA50 ngày (1787.04 điểm), đồng thời chỉ số RSI hàng ngày cần vượt lên trên 50. Bên cạnh đó, số lượng cổ phiếu New High - New Low cần chuyển sang dương và McClellan Oscillator cần tăng vượt qua 0. Hệ quả dự kiến là dòng tiền sẽ có xu hướng lan tỏa dần sang các ngành có momentum tăng đang chờ bứt phá, mở rộng cơ hội cho các cổ phiếu có setup tích lũy chặt chẽ.
Kịch bản tiêu cực: Nếu VNINDEX tiếp tục suy yếu và mất vùng hỗ trợ quan trọng, kịch bản tiêu cực sẽ được xác nhận. Điều kiện kích hoạt là giá đóng cửa dưới hỗ trợ EMA50 tuần (1740.29 điểm), hoặc tệ hơn là phá vỡ vùng hỗ trợ S1 hàng tuần (1714.71 điểm) với khối lượng lớn và McClellan Summation Index tiếp tục giảm sâu. Hệ quả dự kiến là áp lực bán sẽ gia tăng trên diện rộng, các cổ phiếu dẫn dắt hiện tại sẽ chịu áp lực điều chỉnh, và dòng tiền sẽ có xu hướng rút khỏi thị trường hoặc chuyển sang các tài sản phòng thủ hơn.
Thị trường đang trong trạng thái "Suy yếu - Đồng thuận giảm" với độ rộng thị trường kém. Rủi ro lớn nhất là xu hướng giảm hiện tại sẽ tiếp diễn nếu VNINDEX không thể giữ vững hỗ trợ EMA50 tuần quanh 1740.29 điểm, hoặc tệ hơn là phá vỡ vùng thấp nhất trong 20 phiên gần đây tại 1728.36 điểm. Nếu kịch bản này xảy ra, áp lực bán có thể gia tăng, đẩy chỉ số xuống các vùng hỗ trợ thấp hơn. Dòng tiền đang tập trung hẹp vào một số cổ phiếu trụ và các ngành riêng lẻ, thiếu sự lan tỏa. Sự suy yếu của ngành Ngân hàng, dù vẫn đứng đầu về RS Score, là một tín hiệu đáng lo ngại, cần theo dõi liệu các cổ phiếu này có mất các ngưỡng hỗ trợ quan trọng hay không. Ngoài ra, việc các setup cổ phiếu có tín hiệu "ACTIONABLE" trong bối cảnh thị trường chung yếu đòi hỏi sự thận trọng cao về quản trị rủi ro.
Tổng thể, thị trường đang ở trạng thái Neutral nhưng có dấu hiệu suy yếu rõ ràng, với dòng tiền phân hóa và độ rộng thị trường chưa ủng hộ một xu hướng tăng bền vững. Các cổ phiếu có setup tích cực đang nổi lên cục bộ, tuy nhiên cần quản trị rủi ro chặt chẽ trong bối cảnh thị trường chung đang yếu đi.
Các mốc kỹ thuật cụ thể cần quan sát trong các phiên tới là khả năng VNINDEX giữ vững trên mức hỗ trợ EMA50 tuần tại 1740.29 điểm. Ngược lại, nếu chỉ số đóng cửa dưới mức thấp nhất 20 phiên gần nhất là 1728.36 điểm, điều này sẽ làm thay đổi đáng kể nhận định tích cực cho các cổ phiếu tiềm năng và xác nhận thêm áp lực giảm điểm của thị trường.