| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | STB | Ngan hang | +2.62% | +0.79 |
| 2 | HPG | Kim loai cong nghiep | +1.65% | +0.62 |
| 3 | VCB | Ngan hang | +0.50% | +0.52 |
| 4 | VCK | Cong ty Chung khoan | +3.30% | +0.48 |
| 5 | SSB | Ngan hang | +2.77% | +0.47 |
| 6 | HVN | Du lich va giai tri | +3.47% | +0.46 |
| 7 | VNM | San xuat thuc pham | +1.66% | +0.44 |
| 8 | VJC | Du lich va giai tri | +1.74% | +0.35 |
| 9 | LPB | Ngan hang | +1.05% | +0.31 |
| 10 | GEX | Thiet bi dien, dien tu | +3.83% | +0.25 |
| Tổng (top 10) | +4.68 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | CTG | Ngan hang | -3.66% | -1.87 |
| 2 | VPL | Du lich va giai tri | -5.03% | -1.61 |
| 3 | TCB | Ngan hang | -3.22% | -1.56 |
| 4 | BID | Ngan hang | -2.59% | -1.45 |
| 5 | MBB | Ngan hang | -3.16% | -1.37 |
| 6 | VPB | Ngan hang | -2.66% | -1.24 |
| 7 | ACB | Ngan hang | -3.95% | -1.09 |
| 8 | FPT | Phan mem va dich vu dien toan | -3.50% | -0.93 |
| 9 | MCH | San xuat thuc pham | -1.79% | -0.71 |
| 10 | BSR | San xuat dau khi | -1.63% | -0.52 |
| Tổng (top 10) | -12.35 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngan hang | 23 | 54.0% | 60.9% | HIGH | SPEC | 74 | 65.0 |
| 2 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 60.1% | 63.2% | HIGH | SPEC | 63 | 65.0 |
| 3 | Cong ty Chung khoan | 20 | 31.3% | 37.1% | MED | SPEC | 56 | 51.0 |
| 4 | San xuat thuc pham | 30 | 88.4% | 94.1% | LOW | SPEC | 85 | 46.6 |
| 5 | San xuat dau khi | 3 | 100.0% | 100.0% | LOW | ILLIQ | 63 | 37.3 |
| 6 | Phan mem va dich vu dien toan | 4 | 98.5% | 99.4% | DRY | ILLIQ | 89 | 24.8 |
| 7 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 94.3% | 97.9% | DRY | ILLIQ | 90 | 24.4 |
| 8 | Du lich va giai tri | 8 | 92.4% | 96.9% | DRY | ILLIQ | 87 | 23.7 |
| 9 | Quy mo | 18 | 99.4% | 99.1% | DRY | ILLIQ | 94 | 23.1 |
| 10 | Hoa chat | 27 | 89.4% | 93.0% | DRY | ILLIQ | 86 | 21.5 |
| 11 | Ga, nuoc va cac tien ich khac | 10 | 99.4% | 99.4% | DRY | ILLIQ | 73 | 19.3 |
| 12 | Hang gia dung | 13 | 76.1% | 90.2% | DRY | ILLIQ | 69 | 18.6 |
| 13 | Van tai, kho bai | 32 | 57.3% | 60.8% | DRY | ILLIQ | 74 | 18.2 |
| 14 | Ban le chung | 14 | 40.7% | 52.1% | DRY | ILLIQ | 52 | 15.4 |
| 15 | Oto va linh kien oto | 8 | 63.4% | 60.3% | DRY | ILLIQ | 51 | 14.4 |
Thị trường đang được xác định ở trạng thái Tăng nhưng phân kỳ - Cẩn trọng, phản ánh sự mâu thuẫn giữa diễn biến chỉ số và độ rộng thị trường. Mặc dù Market Regime vẫn là "Bull", điểm số độ rộng thị trường (Breadth Score) đang ở mức 44.96, cho thấy phần lớn cổ phiếu không đồng thuận với đà tăng của chỉ số. Tỷ lệ tăng/giảm (A/D Ratio) là 1.47, có vẻ tích cực về mặt số lượng mã tăng trong phiên, nhưng số mã lập đỉnh mới trừ đi số mã lập đáy mới (NH-NL) lại là -17, xác nhận tình trạng yếu kém của độ rộng. Chỉ báo McClellan Oscillator ở mức 5.65, quanh ngưỡng trung tính, nhưng chỉ báo Summation Index lại đang ở mức âm sâu (-364.89), củng cố nhận định về một xu hướng tiêu cực đang tiềm ẩn trong breadth. VNINDEX đã giảm -0.39% trong phiên gần nhất, đóng cửa tại 1815.66 điểm với khối lượng giao dịch 721,522,240 cổ phiếu.
VNINDEX hiện đang duy trì cấu trúc xu hướng mạnh mẽ về mặt kỹ thuật, với giá đóng cửa nằm trên tất cả các đường trung bình động EMA20, EMA50 và EMA200 trên cả khung thời gian ngày và tuần (trend_alignment: BULL_FULL). Điều này cho thấy chỉ số vẫn đang trong một xu hướng tăng vững chắc. Tuy nhiên, chất lượng của xu hướng này đang bị đặt dấu hỏi lớn bởi sự phân kỳ với độ rộng thị trường.
Điểm số độ rộng dưới 50 và chỉ số NH-NL âm cho thấy đà tăng của VNINDEX trong những phiên gần đây không được hỗ trợ bởi sự lan tỏa rộng khắp của dòng tiền. Thay vào đó, thị trường có dấu hiệu phân hóa mạnh mẽ, nơi một số ít cổ phiếu trụ hoặc các nhóm ngành được chọn lọc đang kéo chỉ số, trong khi nhiều mã khác lại suy yếu hoặc điều chỉnh. Khối lượng giao dịch phiên gần nhất cao hơn 1.35 lần so với trung bình 20 phiên (daily.rvol = 1.35) và giá trị giao dịch cao hơn 1.56 lần so với trung bình 20 phiên (gtgd_vs_ma20 = 1.56) trong khi chỉ số giảm nhẹ, cho thấy áp lực bán đã xuất hiện đáng kể, hoặc quá trình phân phối đang diễn ra cục bộ. Mặc dù độ dốc của OBV (obv_slope) vẫn dương, cho thấy dòng tiền vẫn tích lũy ở một số mã, điều này chưa đủ để xác nhận một xu hướng tăng bền vững khi breadth thị trường yếu. VNINDEX đang ở vị thế 66.89% so với mức cao nhất 52 tuần, cho thấy chỉ số không quá nóng nhưng cũng không còn nhiều dư địa tăng mà thiếu sự đồng thuận.
Dòng tiền đang thể hiện sự tập trung cao độ vào nhóm ngành Ngân hàng (Rank 1, RS Score 65.0, momentum tăng) và Đầu tư bất động sản và dịch vụ (Rank 2, RS Score 65.0, momentum tăng), cùng với Công ty Chứng khoán (Rank 3, RS Score 51.0, momentum tăng). Tuy nhiên, ngay cả trong nhóm dẫn dắt như Ngân hàng, dòng tiền cũng có sự phân hóa rõ rệt.
Trong phiên gần nhất, các mã như ⭐ SSB ⚡ (0.47 điểm), STB (0.79 điểm) và VCB (0.52 điểm) thuộc nhóm Ngân hàng đã có đóng góp tích cực vào đà tăng của VNINDEX. Ngược lại, các mã khác trong cùng ngành Ngân hàng lại gây áp lực giảm đáng kể, với CTG ghìm chỉ số -1.87 điểm, TCB ghìm -1.56 điểm, BID ghìm -1.45 điểm và MBB ghìm -1.37 điểm. Điều này cho thấy dòng tiền đang luân chuyển rất chọn lọc, thậm chí gây ra hiệu ứng "kéo trụ xả Penny" hoặc "kéo mã này, xả mã khác" ngay trong cùng một ngành, làm giảm sự bền vững của xu hướng. Các nhóm ngành khác như Sản xuất thực phẩm và Sản xuất dầu khí cũng có momentum tăng nhưng RS Score thấp hơn, cho thấy chúng đang theo sau và chưa đủ sức dẫn dắt.
volume_dry_up: true), cho thấy áp lực bán đã giảm.volume_dry_up: true) trước đó.volume_dry_up: true).volume_dry_up: true).volume_dry_up: true).volume_dry_up: true).Kịch bản tích cực: Thị trường cần giữ vững trên các hỗ trợ động quan trọng. Nếu VNINDEX duy trì trên EMA20 ngày (1804.91) và EMA50 ngày (1795.88), đồng thời vượt qua mức pivot tuần 1821.63, thì sẽ có cơ hội kiểm định lại vùng kháng cự R1 tuần 1848.06. Quan trọng hơn, nếu Breadth Score cải thiện lên trên 50 và NH-NL trở lại vùng dương, điều này sẽ xác nhận sự đồng thuận và lan tỏa của dòng tiền, giúp củng cố xu hướng tăng bền vững.
Kịch bản tiêu cực: Nếu VNINDEX không giữ được các mức hỗ trợ EMA20 ngày (1804.91) và EMA50 ngày (1795.88), đặc biệt nếu đóng cửa dưới những ngưỡng này kèm theo khối lượng giao dịch tăng mạnh. Kịch bản xấu hơn sẽ xảy ra nếu chỉ số phá vỡ hỗ trợ S1 tuần (1768.79). Trong trường hợp này, Breadth Score có khả năng tiếp tục suy yếu và Summation Index giảm sâu hơn, xác nhận xu hướng điều chỉnh hoặc suy yếu đồng bộ của thị trường, với dòng tiền có thể rút khỏi các nhóm cổ phiếu dẫn dắt.
Rủi ro lớn nhất hiện tại là sự phân kỳ giữa diễn biến chỉ số VNINDEX và độ rộng thị trường. Mặc dù chỉ số đang giữ vững cấu trúc tăng mạnh về mặt kỹ thuật, các chỉ báo độ rộng lại cho thấy sự yếu kém rõ rệt. Điều này có thể báo hiệu một pha tăng điểm không bền vững, phụ thuộc quá nhiều vào một số mã trụ hoặc các nhóm ngành chọn lọc, tiềm ẩn nguy cơ bull trap nếu dòng tiền không lan tỏa. Một rủi ro khác là sự phân hóa mạnh mẽ ngay trong nhóm ngành dẫn dắt như ngân hàng, nơi một số mã kéo chỉ số nhưng nhiều mã khác lại suy yếu, tạo ra sự biến động khó lường cho thị trường chung. Xu hướng hiện tại sẽ gặp thử thách nghiêm trọng nếu VNINDEX đóng cửa dưới hỗ trợ EMA50 ngày quanh 1795.88 điểm, hoặc nếu mức hỗ trợ S1 tuần tại 1768.79 điểm bị phá vỡ, điều này có thể kích hoạt làn sóng bán tháo và xác nhận xu hướng giảm.
Thị trường đang trong giai đoạn tăng điểm nhưng cần đặc biệt cẩn trọng với các tín hiệu phân kỳ của độ rộng thị trường, cho thấy dòng tiền chưa thực sự ủng hộ một xu hướng tăng bền vững trên diện rộng.
Để duy trì nhận định tích cực, VNINDEX cần giữ vững trên vùng hỗ trợ EMA20 ngày (1804.91 điểm) và EMA50 ngày (1795.88 điểm). Ngược lại, việc chỉ số phá vỡ và đóng cửa dưới mức hỗ trợ S1 tuần tại 1768.79 điểm sẽ làm thay đổi hoàn toàn nhận định hiện tại, chuyển sang trạng thái tiêu cực hơn.