| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VIC | Dau tu bat dong san va dich vu | +3.60% | +13.74 |
| 2 | SSB | Ngan hang | +6.73% | +0.82 |
| 3 | VHM | Dau tu bat dong san va dich vu | +0.55% | +0.68 |
| 4 | BSR | San xuat dau khi | +1.13% | +0.31 |
| 5 | DCM | Hoa chat | +5.67% | +0.19 |
| 6 | DPM | Hoa chat | +5.91% | +0.18 |
| 7 | DGC | Hoa chat | +4.42% | +0.15 |
| 8 | SJS | Dau tu bat dong san va dich vu | +4.27% | +0.15 |
| 9 | VJC | Du lich va giai tri | +0.48% | +0.10 |
| 10 | VRE | Dau tu bat dong san va dich vu | +0.77% | +0.09 |
| Tổng (top 10) | +16.43 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VCB | Ngan hang | -2.33% | -2.44 |
| 2 | TCB | Ngan hang | -3.89% | -1.92 |
| 3 | VPB | Ngan hang | -3.06% | -1.40 |
| 4 | MBB | Ngan hang | -2.14% | -0.94 |
| 5 | HPG | Kim loai cong nghiep | -2.26% | -0.88 |
| 6 | TCX | Cong ty Chung khoan | -3.43% | -0.81 |
| 7 | CTG | Ngan hang | -1.41% | -0.73 |
| 8 | LPB | Ngan hang | -2.30% | -0.72 |
| 9 | HDB | Ngan hang | -2.16% | -0.63 |
| 10 | BID | Ngan hang | -1.09% | -0.61 |
| Tổng (top 10) | -11.07 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 85.3% | 89.2% | HIGH | SPEC | 78 | 65.0 |
| 2 | Cong ty Chung khoan | 20 | 63.2% | 60.1% | MED | SPEC | 68 | 52.3 |
| 3 | Ngan hang | 23 | 50.9% | 56.1% | HIGH | WEAK | 38 | 45.8 |
| 4 | San xuat thuc pham | 30 | 87.1% | 90.1% | LOW | SPEC | 76 | 41.2 |
| 5 | Do uong | 4 | 100.0% | 100.0% | DRY | ILLIQ | 95 | 24.0 |
| 6 | Hoa chat | 27 | 92.2% | 94.5% | DRY | ILLIQ | 87 | 23.8 |
| 7 | San xuat dau khi | 3 | 100.0% | 100.0% | DRY | ILLIQ | 87 | 22.2 |
| 8 | Ga, nuoc va cac tien ich khac | 10 | 96.0% | 99.4% | DRY | ILLIQ | 84 | 20.9 |
| 9 | Thiet bi dien, dien tu | 4 | 73.4% | 68.8% | DRY | ILLIQ | 77 | 18.0 |
| 10 | Lam nghiep va giay | 7 | 98.8% | 97.5% | DRY | ILLIQ | 67 | 17.1 |
| 11 | Hang gia dung | 13 | 77.1% | 72.0% | DRY | ILLIQ | 74 | 17.0 |
| 12 | Phan mem va dich vu dien toan | 4 | 97.9% | 97.6% | DRY | ILLIQ | 59 | 16.1 |
| 13 | Van tai, kho bai | 32 | 59.6% | 54.4% | DRY | ILLIQ | 59 | 15.4 |
| 14 | Quy mo | 18 | 61.7% | 72.7% | DRY | ILLIQ | 51 | 14.7 |
| 15 | Oto va linh kien oto | 8 | 61.0% | 58.1% | DRY | ILLIQ | 29 | 10.2 |
Thị trường hiện đang ở trạng thái Tăng nhưng phân kỳ - Cẩn trọng. Mặc dù VNINDEX duy trì xu hướng Bull, các chỉ báo độ rộng thị trường lại cho thấy sự yếu kém đáng lo ngại. Breadth Score ở mức 35.39, chỉ báo A/D Ratio rất thấp ở mức 0.39, và NH-NL ghi nhận -11 cho thấy số lượng cổ phiếu đạt đỉnh mới thấp hơn đáng kể so với cổ phiếu đạt đáy mới. McClellan Oscillator vẫn giữ được mức dương nhẹ là 3.05, tuy nhiên Summation Index ở mức âm sâu -314.43, thể hiện áp lực bán tiềm ẩn đang tích tụ dưới bề mặt. Sự phân kỳ giữa diễn biến chỉ số và độ rộng thị trường cho thấy nhịp tăng hiện tại đang thiếu sự đồng thuận và có thể không bền vững.
VNINDEX đang giao dịch ở mức 1827.72 điểm, giảm nhẹ 0.24% so với phiên trước. Chỉ số hiện tại nằm trên tất cả các đường EMA quan trọng (EMA20, EMA50, EMA200 cả trên khung tuần và ngày), xác nhận trạng thái xu hướng tăng (BULL_FULL). Tuy nhiên, độ rộng thị trường lại không tương xứng với sức mạnh của chỉ số. Diễn biến này cho thấy thị trường đang trong giai đoạn phân hóa mạnh, khi dòng tiền có xu hướng tập trung vào một vài cổ phiếu vốn hóa lớn hoặc nhóm ngành nhất định, trong khi đa số cổ phiếu còn lại không tăng hoặc thậm chí suy yếu. Khối lượng giao dịch phiên gần nhất (520 triệu cổ phiếu) ở mức thấp hơn trung bình 20 phiên (rVOL 0.96), cho thấy sự thận trọng của dòng tiền. Chỉ báo OBV với độ dốc dương nhẹ vẫn phản ánh trạng thái tích lũy của dòng tiền lớn, nhưng vị thế giá so với 52 tuần ở mức 70.29% cho thấy chỉ số đã tăng một quãng đáng kể từ đáy nhưng chưa thực sự vượt qua các đỉnh cao lịch sử.
Dòng tiền hiện tại đang có sự luân chuyển và phân hóa rõ rệt. Nhóm ngành Đầu tư bất động sản và dịch vụ đang dẫn đầu với RS Score 65.0 và đà tăng momentum. Theo sau là Công ty Chứng khoán (RS Score 52.3, momentum tăng). Đáng chú ý, nhóm Ngân hàng vẫn giữ vị trí thứ 3 nhưng momentum đã chuyển sang giảm, cho thấy áp lực chốt lời hoặc dịch chuyển dòng tiền trong nội tại ngành này.
Trong phiên gần nhất, chỉ số được hỗ trợ bởi các mã trụ như VIC (+13.74 điểm), SSB (+0.82 điểm) thuộc nhóm Ngân hàng và VHM (+0.68 điểm) thuộc nhóm Đầu tư bất động sản. Tuy nhiên, đà giảm của chỉ số lại đến từ các mã ngân hàng vốn hóa lớn khác như VCB (-2.44 điểm), TCB (-1.92 điểm), VPB (-1.4 điểm) và MBB (-0.94 điểm), cùng với HPG (-0.88 điểm) thuộc ngành Kim loại. Điều này càng củng cố nhận định về sự phân hóa và xoay vòng dòng tiền, đặc biệt là trong bối cảnh nhóm ngân hàng đang có dấu hiệu chững lại sau một thời gian tăng trưởng mạnh.
Kịch bản tích cực: * Điều kiện kích hoạt: VNINDEX tiếp tục giữ vững trên vùng hỗ trợ EMA20 ngày (1782.26 điểm) và EMA50 ngày (1783.92 điểm), sau đó vượt lên trên vùng kháng cự R1 hàng tuần tại 1854.11 điểm với khối lượng giao dịch cải thiện đáng kể (rVOL > 1.2). Đồng thời, các chỉ báo độ rộng thị trường như Breadth Score tăng lên trên 60 và NH-NL chuyển sang dương. * Hệ quả dự kiến: Thị trường sẽ xác nhận lại xu hướng tăng mạnh mẽ, dòng tiền có thể lan tỏa rộng hơn ra các nhóm ngành khác ngoài nhóm dẫn dắt hiện tại, tạo ra các cơ hội mở rộng đà tăng.
Kịch bản tiêu cực: * Điều kiện kích hoạt: VNINDEX không giữ được vùng hỗ trợ quan trọng EMA20 ngày (1782.26 điểm) và EMA50 ngày (1783.92 điểm), đặc biệt nếu đóng cửa dưới hỗ trợ S1 hàng tuần tại 1794.26 điểm kèm khối lượng lớn (rVOL > 1.2). Đồng thời, các chỉ báo độ rộng thị trường tiếp tục suy yếu và Summation Index đi xuống sâu hơn nữa. * Hệ quả dự kiến: Thị trường có thể bước vào giai đoạn điều chỉnh sâu hơn hoặc tích lũy kéo dài, dòng tiền có xu hướng rút khỏi các nhóm ngành rủi ro cao và tìm đến các nhóm phòng thủ, rủi ro bull trap gia tăng.
Rủi ro lớn nhất hiện tại là sự phân kỳ giá–độ rộng đang diễn ra, khi chỉ số VNINDEX vẫn duy trì được xu hướng tăng nhưng các chỉ báo độ rộng thị trường lại thể hiện sự suy yếu rõ rệt. Điều này cho thấy đà tăng của chỉ số đang thiếu sự đồng thuận từ đa số cổ phiếu, làm tăng khả năng xảy ra một nhịp điều chỉnh bất ngờ. Cần đặc biệt cảnh giác nếu VNINDEX không giữ được vùng hỗ trợ EMA50 ngày quanh 1783.92 điểm và đặc biệt là khi mất ngưỡng S1 tuần tại 1794.26 điểm, điều này sẽ xác nhận áp lực bán gia tăng và tiềm ẩn rủi ro phá vỡ xu hướng ngắn hạn.
Thị trường đang trong giai đoạn tăng nhưng đi kèm với sự phân hóa và tiềm ẩn rủi ro từ độ rộng thị trường yếu. Dòng tiền hiện đang tập trung vào một số nhóm ngành dẫn dắt như Bất động sản và Chứng khoán, nhưng đồng thời cũng có áp lực chốt lời tại một số cổ phiếu vốn hóa lớn trong ngành Ngân hàng. Để duy trì đà tăng bền vững, thị trường cần sớm có sự đồng thuận trở lại từ độ rộng thị trường và dòng tiền cần lan tỏa rộng hơn.
Nhà đầu tư cần tiếp tục quan sát chặt chẽ vùng hỗ trợ EMA20 ngày (1782.26 điểm) và đặc biệt là hỗ trợ S1 hàng tuần tại 1794.26 điểm. Nếu chỉ số giữ vững được các ngưỡng này và có tín hiệu cải thiện về độ rộng thị trường, kịch bản tích cực sẽ được củng cố. Ngược lại, việc mất các ngưỡng hỗ trợ quan trọng này sẽ là tín hiệu cho thấy rủi ro điều chỉnh đang gia tăng.