| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | BSR | San xuat dau khi | +2.78% | +0.71 |
| 2 | STB | Ngan hang | +2.08% | +0.62 |
| 3 | VNM | San xuat thuc pham | +1.90% | +0.50 |
| 4 | GAS | Ga, nuoc va cac tien ich khac | +0.60% | +0.21 |
| 5 | VCB | Ngan hang | +0.19% | +0.18 |
| 6 | NVL | Dau tu bat dong san va dich vu | +1.97% | +0.12 |
| 7 | TPB | Ngan hang | +1.43% | +0.12 |
| 8 | GMD | Van tai, kho bai | +1.67% | +0.11 |
| 9 | PLX | San xuat dau khi | +1.20% | +0.11 |
| 10 | PGV | Dien | +1.82% | +0.10 |
| Tổng (top 10) | +2.78 | |||
| # | Mã | Ngành | % Giá | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VHM | Dau tu bat dong san va dich vu | -1.52% | -1.79 |
| 2 | VIC | Dau tu bat dong san va dich vu | -0.42% | -1.51 |
| 3 | MWG | Ban le chung | -4.90% | -1.12 |
| 4 | TCB | Ngan hang | -2.22% | -1.00 |
| 5 | TCX | Cong ty Chung khoan | -4.62% | -0.96 |
| 6 | GVR | Hoa chat | -3.32% | -0.78 |
| 7 | FPT | Phan mem va dich vu dien toan | -2.78% | -0.67 |
| 8 | LPB | Ngan hang | -1.69% | -0.59 |
| 9 | SSI | Cong ty Chung khoan | -3.18% | -0.41 |
| 10 | VPX | Cong ty Chung khoan | -2.82% | -0.31 |
| Tổng (top 10) | -9.14 | |||
| # | Ngành | Mã | W-Breadth | Eff Part | Liq | Class | Mom | Sort Score |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Ngan hang | 21 | 22.9% | 27.2% | HIGH | WEAK | 16 | 30.4 |
| 2 | San xuat thuc pham | 29 | 38.8% | 44.8% | LOW | WEAK | 47 | 27.0 |
| 3 | Dau tu bat dong san va dich vu | 66 | 2.7% | 4.5% | MED | WEAK | 6 | 18.8 |
| 4 | Duoc pham va cong nghe sinh hoc | 11 | 91.2% | 86.4% | DRY | ILLIQ | 63 | 16.2 |
| 5 | Cong ty Chung khoan | 20 | 6.8% | 4.3% | MED | WEAK | 4 | 15.6 |
| 6 | Lam nghiep va giay | 6 | 59.3% | 69.4% | DRY | ILLIQ | 41 | 15.2 |
| 7 | Phan mem va dich vu dien toan | 4 | 0.0% | 0.0% | LOW | ILLIQ | 25 | 14.2 |
| 8 | Kim loai cong nghiep | 10 | 0.3% | 0.6% | LOW | WEAK | 25 | 14.2 |
| 9 | Oto va linh kien oto | 8 | 43.2% | 37.5% | DRY | ILLIQ | 53 | 12.9 |
| 10 | San xuat dau khi | 3 | 0.1% | 0.1% | DRY | ILLIQ | 40 | 11.7 |
| 11 | Ga, nuoc va cac tien ich khac | 10 | 10.1% | 16.0% | DRY | ILLIQ | 38 | 10.6 |
| 12 | Do dung ca nhan | 10 | 0.1% | 0.0% | DRY | ILLIQ | 25 | 9.2 |
| 13 | Xay dung va vat lieu xay dung | 54 | 16.2% | 15.7% | DRY | ILLIQ | 29 | 8.3 |
| 14 | Hoa chat | 28 | 8.5% | 6.9% | DRY | ILLIQ | 28 | 7.9 |
| 15 | Thiet bi dien, dien tu | 4 | 0.0% | 0.0% | DRY | ILLIQ | 28 | 7.8 |
Thị trường đang trong trạng thái Suy yếu - Đồng thuận giảm. Độ rộng thị trường cho thấy áp lực bán lan rộng với Breadth Score ở mức 20.79 và tỷ lệ tăng/giảm (A/D Ratio) là 0.39, phản ánh số lượng mã giảm điểm chiếm ưu thế áp đảo. Số lượng cổ phiếu đạt đỉnh cao mới so với đáy thấp mới (NH-NL) ở mức -103 cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng các cổ phiếu có sức mạnh. Các chỉ báo tâm lý thị trường như McClellan Oscillator ghi nhận -18.5 và Summation Index ở mức -531.34 đều xác nhận xu hướng suy yếu đang tiếp diễn và ngày càng sâu rộng, cho thấy tâm lý tiêu cực và động lực giảm giá chi phối toàn thị trường.
Xu hướng hiện tại của VN-Index được đánh giá là hỗn hợp (MIXED) trên các khung thời gian, nhưng nghiêng về suy yếu rõ rệt ở ngắn hạn. Chỉ số đã giảm mạnh, đóng cửa dưới EMA20 và EMA50 ngày lần lượt 5.17% và 6.78%, đồng thời cũng đang giao dịch dưới EMA20 tuần 6.48%. Chỉ báo RSI hàng ngày ở mức 28.85 đang nằm sâu trong vùng quá bán, trong khi RSI tuần ở mức 40.69, cho thấy đà giảm đang chiếm ưu thế và chưa có dấu hiệu cân bằng.
Động lực giá ngắn hạn suy yếu mạnh với tốc độ giảm giá 5 ngày (ROC5) là -5.67% và 20 ngày (ROC20) là -9.93%. Khối lượng giao dịch của phiên gần nhất thấp hơn mức trung bình 20 ngày (RVOL 0.87), cho thấy lực bán chưa thực sự đột biến về khối lượng, nhưng áp lực vẫn duy trì. Chỉ báo OBV (On Balance Volume) với độ dốc âm (-238,351,152) xác nhận dòng tiền đang có xu hướng phân phối mạnh mẽ. Thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh sâu với sự phân hóa mạnh, nhưng đa số cổ phiếu đang trong xu hướng suy yếu và thiếu sự đồng thuận từ độ rộng.
Dòng tiền hiện tại đang trong trạng thái phòng thủ và có sự luân chuyển hạn chế, chủ yếu tìm đến các nhóm có câu chuyện riêng hoặc đã giảm sâu. Các ngành dẫn dắt có sức mạnh tương đối cao nhất (top 3) là Ngân hàng, Sản xuất thực phẩm, và Đầu tư bất động sản và dịch vụ. Tuy nhiên, đáng chú ý là động lực của các nhóm này đều đang "giảm" hoặc "đi ngang", cho thấy ngay cả các ngành mạnh nhất cũng đang chịu áp lực hoặc mất đà. Ngành Dược phẩm và công nghệ sinh học là ngành duy nhất có "momentum tăng", nhưng xếp hạng chỉ ở vị trí thứ 4.
Phân tích đóng góp chỉ số cho thấy sự phân hóa rõ rệt: * Các cổ phiếu đóng góp tích cực vào VN-Index bao gồm BSR (+0.71 điểm), STB (+0.62 điểm) và VNM (+0.5 điểm), cho thấy sự hồi phục cục bộ ở một vài trụ hoặc cổ phiếu riêng lẻ. * Tuy nhiên, áp lực giảm điểm lại đến từ các mã vốn hóa lớn như VHM (-1.79 điểm), VIC (-1.51 điểm), MWG (-1.12 điểm), TCB (-1.0 điểm) và TCX (-0.96 điểm). Điều này cho thấy đà giảm của thị trường chủ yếu do các mã trụ lớn trong nhóm bất động sản, bán lẻ và tài chính ngân hàng kéo xuống, trong khi độ rộng thị trường chung lại yếu kém, tạo nên tình trạng "xanh vỏ đỏ lòng" hoặc giảm điểm toàn diện. Sự luân chuyển dòng tiền chưa đủ mạnh để tạo ra xu hướng tăng bền vững cho thị trường chung.
Kịch bản tích cực: * Điều kiện kích hoạt: VN-Index có thể giữ vững trên mức hỗ trợ 1658.35 điểm (đáy tuần hiện tại) và nhanh chóng hồi phục, vượt qua ngưỡng kháng cự gần nhất là EMA50 tuần ở 1719.27 điểm và EMA200 ngày ở 1747.21 điểm với khối lượng gia tăng. Đồng thời, chỉ số RSI hàng ngày cần thoát khỏi vùng quá bán và vượt lên mức 30. * Hệ quả dự kiến: Độ rộng thị trường sẽ có sự cải thiện nhẹ, thể hiện qua A/D Ratio tăng trên 1 và McClellan Oscillator quay đầu dương. Dòng tiền có thể bắt đầu luân chuyển sang các nhóm ngành có sức mạnh tương đối tốt hoặc đang tích lũy chặt chẽ, tạo nền tảng cho sự hồi phục kỹ thuật.
Kịch bản tiêu cực: * Điều kiện kích hoạt: VN-Index không thể giữ được mức hỗ trợ quan trọng 1658.35 điểm, đóng cửa dưới ngưỡng này với khối lượng gia tăng. Chỉ số RSI hàng ngày tiếp tục giảm sâu hoặc duy trì dưới 28. * Hệ quả dự kiến: Áp lực bán sẽ tiếp tục gia tăng, độ rộng thị trường càng yếu hơn với các chỉ báo McClellan Oscillator và Summation Index giảm sâu hơn. Dòng tiền sẽ rút ra khỏi thị trường hoặc tập trung vào các nhóm phòng thủ hẹp, dẫn đến đà giảm tiếp diễn và có thể kiểm định các vùng hỗ trợ sâu hơn.
Rủi ro lớn nhất là sự tiếp diễn của trạng thái thị trường suy yếu, được xác nhận bởi độ rộng thị trường rất kém và dòng tiền có xu hướng phân phối rõ ràng. Thị trường đang thiếu vắng các nhóm ngành dẫn dắt mạnh mẽ với momentum tăng trưởng rõ rệt, điều này làm tăng nguy cơ thị trường không thể hồi phục một cách bền vững. Nếu VN-Index không thể giữ vững mức hỗ trợ quanh đáy tuần hiện tại là 1658.35 điểm, kịch bản suy giảm sâu hơn có thể xảy ra, đặc biệt khi chỉ số RSI hàng ngày đang ở vùng quá bán nhưng chưa có dấu hiệu bật tăng mạnh mẽ. Sự phân kỳ giữa giá và các chỉ báo breadth cũng là một yếu tố cần đặc biệt lưu ý, cho thấy đà giảm có thể còn tiếp diễn.
Thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh với áp lực bán chiếm ưu thế và độ rộng thị trường rất yếu kém. Dòng tiền hiện tại có xu hướng phân phối và thiếu sự lan tỏa, với các nhóm ngành dẫn dắt cũng đang giảm hoặc đi ngang momentum.
Để đánh giá lại xu hướng, cần quan sát khả năng VN-Index giữ vững mức 1658.35 điểm (đáy tuần hiện tại) và phản ứng giá tại vùng này. Ngược lại, để thị trường có tín hiệu cải thiện tích cực hơn, chỉ số cần phải vượt lên trên ngưỡng kháng cự EMA200 ngày quanh 1747.21 điểm và EMA50 tuần quanh 1719.27 điểm với sự đồng thuận từ sự cải thiện của độ rộng thị trường.